>>TIP: “Đừng yêu tôi vào ngày lễ Tình Nhân nếu như bạn không yêu tôi cả năm, và đừng nói yêu tôi trừ phi bạn tin vào những gì tôi nghe. (Vô danh)„
Trang 2/3 ĐầuĐầu 123 CuốiCuối
Hiện kết quả từ 11 tới 20 của 26

Chủ đề: Chứng cứ hoàn hảo

  1. #11
    Tham gia ngày
    Jun 2014
    Bài gửi
    339
    $$$
    1.929
    Like
    0
    Được 29 Like trong 25 bài viết
    1. Chi tiết camera là một điểm bất hợp lý nhất trong vụ này. Có bạn thắc mắc rằng, việc có camera ở khu vực WC đã là một điều kỳ lạ, vậy thì ngay tại vị trí hành lang liệu có xuất hiện một chiếc camera nào hay không. Mình xin thay mặt tác giả để khẳng định luôn rằng, không hề có camera ở ngay khu vực hiện trường gây án. Điều này được thể hiện rõ qua lời miêu tả của tác giả:

    "Hiện trường là hành lang, ngay trước cửa phòng nạn nhân. bên cạnh thi thể còn có một chiếc khăn tẩm thuốc mê. hung khí là một đoạn dây cước nhỏ. cùng với hung khí được tìm thấy là một chiếc áo khoác dài và một đôi bao tay. Có vẻ, chúng được sử dụng để tránh thuốc mê ám vào người. toàn bộ quá trình gây án thì được suy đoán lại như sau"

    Tác giả sử dụng từ "suy đoán" trong đoạn văn này, cho thấy đây chỉ là hướng suy diễn của cảnh sát thông qua các manh mối có ở hiện trường. Nếu ngay vị trí hành lang có tồn tại một chiếc camera, thì phía cảnh sát sẽ đưa ra nhận định chính thức, chứ không thể nào chỉ là "suy đoán" như vậy được. Đây cũng là một chi tiết mà tác giả nên cân nhắc khi xây dựng vụ án, không lý nào người ta lại gắn một chiếc camera ở khu vực WC, còn vị trí hành lang tại nơi làm việc thì không có.

    2. Căn cứ vào các manh mối ở hiện trường (áo khoác, thuốc mê, dây, bao tay), cho thấy đây là một vụ giết người mang tính chủ đích, không phải là giết người bộc phát. Hung thủ đã lên kế hoạch giết chết nạn nhân từ trước, do đó hung thủ phải là một người nắm rõ được sơ đồ vị trí của công ty, cũng như thói quen của nạn nhân.


    Tác giả cũng nên xem lại chi tiết này, nếu hung thủ đã có kế hoạch giết người từ trước, thì không lý nào lại lựa chọn hiện trường gây án là một nơi dễ bị người khác nhìn thấy như vậy. Việc sát hại nạn nhân ngay tại vị trí hành lang nơi làm việc, sẽ hợp lý hơn nếu đây là một vụ giết người mang tính bộc phát.

    3. Căn cứ vào lời gợi ý của tác giả, cho thấy trong ba nghi phạm, hung thủ là một người có cách suy nghĩ khác với hai người còn lại. Do đó, mình suy luận rằng hung thủ trong vụ án này chính là cô Thư Ký.

    Nếu xét kỹ đến lời khai của cả ba nghi phạm, có thể thấy được trong lời khai của ông Đối Tác và cô Bồ Cũ tuyệt nhiên không hề nhắc gì đến chuyện tồn tại chiếc camera, có lẽ hai người họ vốn dĩ không biết hoặc là không để ý đến vị trí của những chiếc camera trong công ty nạn nhân. Còn trong lời khai của cô Thư Ký, cô ta đã sử dụng "camera" như một chứng cứ biện minh cho hành vi giết người của mình, nên cách suy nghĩ của cô ta đã khác so với hai nghi phạm còn lại.

    Hơn nữa, qua lời khai của ông Đối Tác, ông ta nói rằng vào khoảng thời gian nạn nhân tử vong, ông ta đã đứng nói chuyện điện thoại trước cửa WC (cảnh sát hoàn toàn có thể kiểm chứng được việc này). Nhưng theo lời khai của cô Thư Ký, cô ta cũng đi WC vào khoảng thời gian lúc ấy. Như vậy, tại sao cô ta lại không khai báo với cảnh sát rằng: "lúc ở trong phòng WC, tôi có nghe thấy tiếng ông Đối Tác nói chuyện với khách hàng ở trước của phòng" (?). Nếu như khai như vậy, đương nhiên cô ta sẽ chứng minh được mình không phải là hung thủ giết chết ngài giám đốc. Do đó, căn cứ vào lời khai của cô Thư Ký, có thể suy luận rằng, cô ta đã vắng mặt trong khoảng thời gian ông Đối Tác trò chuyện điện thoại với khách hàng, và khoảng thời gian này cô ta đã dùng nó để đi sát hại ngài giám đốc.

    (Nhân tiện mình cũng nói sơ qua về hướng suy luận ông Đối Tác là hung thủ. Cá nhân mình cho rằng ông Đối Tác không thể nào vừa nói chuyện điện thoại vừa ra tay sát hại nạn nhân. Bởi vì, điều này sẽ đi ngược lại so với hướng suy luận của cảnh sát. Hung thủ nấp sau cánh cửa, đợi nạn nhân bước ra khỏi phòng liền gây án, vậy nếu như ông Đối Tác vừa nói chuyện khách hàng vừa núp sau cánh cửa, thì chắc chắn nạn nhân đã biết được có người đứng ở tại vị trí đó rồi).

    4. Xét đến động cơ gây án, mặc dù cả ba nghi phạm đều có động cơ rõ ràng, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể loại bỏ ông Đối Tác và cô Bồ Cũ ra khỏi diện tình nghi. Bởi vì hiện trường gây án là công ty của nạn nhân, ông Đối Tác không thể nào dám mạo hiểm vào công ty người khác mà giết người như vậy, thay vào đó ông ta có thể hẹn nạn nhân ra một nơi khác để ra tay sát hại. Cô Bồ Cũ cũng thế, cô ta hoàn toàn có thể chủ động hẹn nạn nhân ra một nơi ngoài công ty để hành động, chứ không dại gì tìm đến công ty giết chết tình nhân cũ.

    Cô Thư Ký thì không thể chủ động được trong việc này, nên chỉ có thể lựa chọn hiện trường gây án là nơi cô ta đang làm việc, vì chỉ có ở công ty thì cô ta mới có nhiều cơ hội tiếp cận nạn nhân.


    Akiyama M Inventory


  2. Những người thích bài viết của Akiyama M


  3. #12
    Tham gia ngày
    Sep 2016
    Bài gửi
    3
    $$$
    8
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết
    Ht là ông đối tác. Vì đối tác là người duy nhất có đủ khả năng để gọi ông giám đốc ra ngoài hành lang, những người còn lại chỉ có thể vào trực tiếp phòng để báo công việc.. K bao giờ giám đốc phải ra ngoài hành lang để nói chuyện với nhân viên. Tiếp đến việc ông ta bào chữa k nghe thấy tiếng la hét của nn thì bên cạnh có khăn tẩm thuốc mê và 1 lượng lớn thuốc mê bên trong dạ dày nn. Bt ng ta sẽ áp khăn tay lên mồm nn để gây mê nhưng ht đã nhét khăn vào mồm nạn nhân nên k có tiếng la hét và nạn nhân đã nuốt vào 1 lượng lớn thuốc.
    e là ng mới ạ :v


    N.V.A Inventory


  4. #13
    Tham gia ngày
    Sep 2016
    Bài gửi
    83
    $$$
    251
    Like
    61
    Được 7 Like trong 7 bài viết
    Quote Nguyên văn bởi N.V.A Xem bài viết
    Ht là ông đối tác. Vì đối tác là người duy nhất có đủ khả năng để gọi ông giám đốc ra ngoài hành lang, những người còn lại chỉ có thể vào trực tiếp phòng để báo công việc.. K bao giờ giám đốc phải ra ngoài hành lang để nói chuyện với nhân viên. Tiếp đến việc ông ta bào chữa k nghe thấy tiếng la hét của nn thì bên cạnh có khăn tẩm thuốc mê và 1 lượng lớn thuốc mê bên trong dạ dày nn. Bt ng ta sẽ áp khăn tay lên mồm nn để gây mê nhưng ht đã nhét khăn vào mồm nạn nhân nên k có tiếng la hét và nạn nhân đã nuốt vào 1 lượng lớn thuốc.
    e là ng mới ạ :v
    Vậy còn có bồ cũ thì sao hả bạn? Bạn giải thích đầy đủ chứ.


    Victorique Inventory
    01. Huy hiệu Mafia


  5. #14
    Tham gia ngày
    Jun 2014
    Bài gửi
    339
    $$$
    1.929
    Like
    0
    Được 29 Like trong 25 bài viết
    Quote Nguyên văn bởi N.V.A Xem bài viết
    Ht là ông đối tác. Vì đối tác là người duy nhất có đủ khả năng để gọi ông giám đốc ra ngoài hành lang, những người còn lại chỉ có thể vào trực tiếp phòng để báo công việc.. K bao giờ giám đốc phải ra ngoài hành lang để nói chuyện với nhân viên. Tiếp đến việc ông ta bào chữa k nghe thấy tiếng la hét của nn thì bên cạnh có khăn tẩm thuốc mê và 1 lượng lớn thuốc mê bên trong dạ dày nn. Bt ng ta sẽ áp khăn tay lên mồm nn để gây mê nhưng ht đã nhét khăn vào mồm nạn nhân nên k có tiếng la hét và nạn nhân đã nuốt vào 1 lượng lớn thuốc.
    e là ng mới ạ :v
    Chi tiết "gọi nạn nhân ra ngoài hành lang" chỉ mới là suy đoán của phía cảnh sát, chứ không phải là lời khẳng định. Hơn nữa, ông Đối Tác trong trường hợp này sẽ không có khả năng gọi ông giám đốc ra khỏi phòng như bạn nói. nếu những người đang làm công việc văn phòng sẽ hiểu rõ điều này. Khi có khách hàng hay đối tác của công ty đến, thư ký sẽ là người có nhiệm vụ tiếp đón khách và sau đó thông báo cho giám đốc. Giám đốc sẽ ra tiếp họ hoặc mời họ vào phòng họp để bàn bạc công việc, chứ không có chuyện đối tác trực tiếp gọi vào số điện thoại cá nhân, rồi hẹn giám đốc công ty đối phương ra hành lang trò chuyện (trừ những trường hợp đối tác có mối quan hệ thân thiết).

    Nếu tạm bỏ qua những chi tiết chưa hợp lý (camera ở khu vực WC, hành lang không có camera, hung thủ mạo hiểm gây án mạng ở trước cửa phòng giám đốc), có thể suy diễn như sau: Một hai ngày trước, nạn nhân đã có lịch hẹn với ông Đối Tác, cô Thư Ký biết rõ việc này nên đã định sẵn ngày hôm nay sẽ có cơ hội thực hiện hành vi giết người. khi ông Đối Tác đến, cô Thư Ký đã lên phòng thông báo cho nạn nhân, vì nạn nhân đang bận việc, nên đã nhắn cô Thư Ký bảo ông Đối Tác ngồi đợi mình 5 phút. Cô Thư Ký đã lấy khoảng thời gian này làm cơ hội để ra tay, cô ta cố tình vào WC để lợi dụng camera ở đó ngụy tạo chứng cứ ngoại phạm. Sau đó, lên vị trí hành lang và chờ đợi nạn nhân bước ra khỏi phòng. Vì ông Đối Tác đang chờ gặp nạn nhân, nên ông ta mới có thời gian để gọi cho khách hàng của mình.

    (Mình chỉ suy diễn theo những gì logic có thể, vì cơ bản là vụ này quả thật có vài chỗ hơi kỳ lạ).


    Akiyama M Inventory


  6. #15
    Tham gia ngày
    Sep 2016
    Bài gửi
    3
    $$$
    8
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết
    Còn 1 chi tiết nữa... Theo lời của cô thư kí cô đã vào wc và có camera là bằng chứng, cô k hề nhắc đến việc đã gặp ông đối tác ở ngoài cửa => ông đối tác đã k hề ở Wc trong thời gian vụ án diễn ra ( Khai không trung thực) vì nếu có 2 người đã gặp nhau thì sẽ lấy người làm chứng. Còn tiếng đóng mở cửa thì là tiếng p ông giám đốc khi bước ra ngoài hành lang.


    N.V.A Inventory


  7. #16
    Tham gia ngày
    Jun 2014
    Bài gửi
    339
    $$$
    1.929
    Like
    0
    Được 29 Like trong 25 bài viết
    Quote Nguyên văn bởi N.V.A Xem bài viết
    Còn 1 chi tiết nữa... Theo lời của cô thư kí cô đã vào wc và có camera là bằng chứng, cô k hề nhắc đến việc đã gặp ông đối tác ở ngoài cửa => ông đối tác đã k hề ở Wc trong thời gian vụ án diễn ra ( Khai không trung thực) vì nếu có 2 người đã gặp nhau thì sẽ lấy người làm chứng. Còn tiếng đóng mở cửa thì là tiếng p ông giám đốc khi bước ra ngoài hành lang.
    Nếu camera đã ghi lại được hình ảnh của cô Thư ký, thì khi cảnh sát kiểm tra, họ sẽ phát hiện được ngay lời khai của ông đối tác có đúng hay không, ông ta có thật sự đã đứng trước cửa phòng WC hay không. Tác giả có lẽ đã bỏ quên mất chi tiết này.


    Akiyama M Inventory


  8. #17
    Tham gia ngày
    Mar 2014
    Bài gửi
    898
    $$$
    8.973
    Like
    28
    Được 59 Like trong 34 bài viết
    để cho dễ thì các bạn cứ đặt mình vào vị trí hung thủ. Dù có thuốc mê trợ lực nhưng để siết cổ 1 người không phải chuyện dễ dàng, nhất là nếu phải nói chuyện với ai đó thì dễ phân tâm, không thể vừa siết cổ vừa nói chuyện một cách bình thường được. Cô bồ rõ ràng không có nhiều cơ hội, cô ta là nữ, lại không phải người quen thuộc trong công ty, việc sát hại một người e khó mà thực hiện (nếu có kế hoạch, cô ta hẳn phải chọn cách thông minh và đỡ tốn sức hơn). Chỉ còn thư kí vốn nắm rõ mọi đường đi nước bước và hoạt động của sếp, cũng như là dàn xếp trung gian giữa sếp với người khác mới có thể làm được việc đó thôi.
    để cho đỡ suy đoán mò, ta cần tập trung tìm chứng cứ. Như đã nói ở trên, loại bỏ mấy điều sơ sót thì ta dễ dàng vạch trần hung thủ qua đồ đạc hắn để lại thôi. Chỉ còn chờ tác giả lên tiếng xem thế nào
    Không còn gì bất hạnh hơn khi đã biết một nửa sự thật mà không khám phá nốt nửa còn lại


    Hannibal Inventory
    03. Huy hiệu Công Lý


  9. #18
    Tham gia ngày
    Oct 2016
    Bài gửi
    1
    $$$
    18
    Like
    0
    Được 1 Like trong 1 bài viết
    Xin chào! Mình là member mới, cũng muốn bon chen một chút suy luận cá nhân. Có gì sai sót mong mọi người góp ý để mình hoàn thiện hơn.

    Mình sẽ mở đầu bằng cách phân tích những dữ kiện từ nạn nhân mà nhân viên điều tra bước đầu đã đưa ra kết quả.

    Đầu tiên, về nguyên nhân chết: Do ngạt thở, bị siết cổ cho tới chết, không có dấu hiệu phản kháng nên có thể bị chụp thuốc mê, và bên khám nghiệm đã chứng thực rằng trong phổi nạn nhân tồn tại một lượng lớn thuốc gây mê.

    - Hiện trường là hành lang trước cửa phòng làm việc, nơi rất dễ bị nhìn thấy khi hung thủ đang gây án. Tuy nhiên theo lẽ thường, nơi gần khu vực làm việc của giám đốc sẽ rất ít người lui tới, trừ khi có việc cần đến chữ kí hay cần lấy tài liệu gì trước đó, nhưng phần lớn nhân viên sẽ không tự tiện lảng vảng ở nơi hành lang này, bởi thế có thể có hai phương án như sau:

    1. Hung thủ bộc phát mới ra tay giết nạn nhất.
    2. Hung thủ đã có sự sắp xếp từ trước.

    - Tại hiện trường phát hiện vật chứng: Một chiếc khăn tẩm thuốc mê, một đoạn dây cước nhỏ, một chiếc áo khoác dài, một đôi bao tay.
    Vật chứng gần như toàn bộ đều được để lại hiện trường, như thể ai đó cố tình để chúng tại đó. Như vậy có thể loại bỏ khả năng “hung thủ giết người do bộc phát”, bởi vì giết người do bộc phát sẽ không chuẩn bị nhiều thứ như vậy, mà dù có chuẩn bị đi chăng nữa cũng sẽ không giết người rồi ném mọi thứ ở lại mà sẽ theo bản năng bỏ chạy. Như vậy kết luận vụ án này là giết người có chủ ý.

    - Điều tra viên cho biết thời gian hung thủ có thể gây án là từ 9h đến 9h15’ sáng, đây là dựa theo thời gian tử vong của nạn nhân, cũng chưa hẳn đã đúng bởi hung thủ đã có kế hoạch từ trước nên cũng tính toán được khoảng thời gian tử vong để tạo chứng cớ ngoại phạm cho mình.

    Tiếp theo, chúng ta phân tích đến lời khai của ba người đang trong diện tình nghi là: Cô thư kí, ông đối tác B, cô người tình.

    Cả ba người đều có động cơ giết người nhưng cũng đều có chứng cớ ngoại phạm. Nhưng mỗi lời khai của họ lại để lộ ra những thông tin rất bất hợp lý, và những điều bất hợp lý đó lại chính là chứng cớ cho thấy hung thủ là ai.

    - Cô thư kí khai rằng cô ta đi WC trong thời gian ông giám đốc chết, và camera an ninh ở WC có thể chứng minh điều đó. Nhưng cửa sau của WC không có camera nên chứng cớ ngoại phạm này không chặt chẽ, khi bị nghi ngờ, cô ta đã tức giận hỏi văn lại bằng luận điệu “một cô gái như cô ta có thể làm được gì trong 10 đến 15p chứ?”

    Và khi ngài thanh tra J trầm mặc trong một lúc lâu mới cho cô ta rời đi, lúc đó cô ta không biểu hiện gì hay nói gì mà chỉ cầm túi rời đi.

    - Ông đối tác B là người có thể coi là người có khả năng giết nạn nhân cao nhất, bởi vì động cơ vô cùng rõ ràng và quyết liệt. Chính bởi thế nên ông ta đã rất kích động khi bị mời đến điều tra, vì ông ta sợ hãi bị nghi ngờ, nhưng cách ông ta trả lời ngài thanh tra J cho thấy ông ta cũng rất hả hê khi ông giám đốc kia chết.

    Chứng cớ ngoại phạm của ông B cũng khá chặt chẽ, bởi vì ông ta đang ở công ty không phải của mình, vậy nên ông ta có thể không biết có camera an ninh ở khu vực WC, bởi thế ông ta đã đưa ra chứng cớ rằng đứng ở trước cửa WC nói chuyện với đối tác khác. Giờ chỉ cần kiểm tra camera an ninh và chứng thực người đối tác kia thực sự nói chuyện với ông B trong thời gian hung thủ gây án.
    Thái độ khi thanh tra J nói về giả thiết vừa nói điện thoại vừa giết người thì ông B đã rất kích động biện luận rằng: “nếu ông ta giết người thì phải tạo ra tiếng động.” rồi “Hãy hỏi đối tác của ông ta xem có nghe thấy gì ngoài tiếng đóng mở cửa WC không.”, đây cũng là lời khai rất đúng theo tâm lý, bởi nếu ông B là thủ phạm thì ông ta sẽ né tránh nói những điều có liên quan đến vấn đề làm sao để giết người hay giết người sẽ phải có những cái gì.

    Sau khi được mời về, thái độ của ông B là tức giận hầm hầm rời đi.

    - Cô người tình khai rằng đến gặp nạn nhân để đòi tiền nhưng nạn nhân không chịu gặp, rồi lại nói rằng nạn nhân bố trí cô ta ở phòng tiếp tân nói rằng đợi nạn nhân vì nạn nhân còn có chút việc.
    Lời khai này có lỗ hổng bởi vì theo những gì cô ta nói thì cô ta đang cố tình né tránh việc cô ta đã gặp nạn nhân. Thực ra cô ta đã gặp mặt được nạn nhân nhưng chưa kịp nói gì đã bị nạn nhân đánh bài chuồn.

    Dựa theo bằng chứng ngoại phạm là cô ta đang tự mình pha cà phê uống cho thấy rằng cô ta từng làm việc này rất nhiều lần ở phòng tiếp tân này, và hành động này cũng chứng tỏ rằng cô ta biết chắc chắn rằng nạn nhân sẽ phải quay trở lại gặp cô ta.

    Khi thanh tra nói rằng cô ta có thể hẹn gặp để giết nạn nhân nhưng rồi cũng không kết luận gì cả, thái độ của cô người tình chỉ là nhăn mặt rồi đứng dậy rời đi.

    Thứ ba, ngài thanh tra J phát hiện điểm kì lạ trong thái độ và cách suy nghĩ của các nghi phạm, có một người có thái độ khác và cách suy nghĩ khác với hai người còn lại. Vậy nên giờ ta phân tích thái độ và cách suy nghĩ của cả ba nghi phạm.

    - Cô thư kí: Thái độ bình thản khi được mời đến, rất dễ dàng đưa ra lý do hợp lý cho việc cô ta không phải kẻ giết người, dễ dàng đưa ra bằng chứng ngoại phạm. Khi bằng chứng ngoại phạm bị nghi ngờ, cô ta nổi giận và đưa ra biện luận rất mơ hồ là “có thể làm được gì?” để vặn lại ngài thanh tra. Thái độ rời đi là im lặng xách túi ra thẳng cửa.

    Tư duy của cô thư kí rất kì lạ, như thể cô ta biết những điều mà nhân viên điều tra sẽ hỏi và chuẩn bị rất kĩ lưỡng, đến thái độ cũng đã được chuẩn bị kĩ lưỡng, nhưng có lẽ cô ta lại bị kích động bởi sự nghi ngờ. Cô ta cảm thấy lo lắng khi ra về vì sự trầm mặc của ngài thanh tra J.

    - Ông đối tác B: Thái độ vội vàng lo lắng khi được mời đến, hoảng hốt đưa ra bằng chứng ngoại phạm. Khi bằng chứng ngoại phạm bị nghi ngờ, ông ta kích động đưa ra hàng loạt những câu hỏi bằng các phương án phản đối cụ thể. Thái độ rời đi là tức giận lo lắng mà rời đi.

    Tư duy của ông B rất giống với người bình thường, khi bị mời lên thẩm vấn thường sẽ lo lắng bởi ông ta biết mình sẽ bị nghi ngờ là thủ phạm. Khi ông ta kích động, mọi điều ông ta nói sẽ không được sắp xếp chặt chẽ, vậy nên lời khai của ông ta rời rạc và hay lặp lại một vài điều, thường là sẽ bám rất sát bằng chứng ngoại phạm của mình.

    - Cô người tình: Thái độ bồn chồn, vội vàng đưa ra bằng chứng ngoại phạm. Khi bằng chứng ngoại phạm bị nghi ngờ thì không thấy cô ta phản ứng gì. Thái độ rời đi là nhăn mặt rồi đứng dậy đi mất.
    Tư duy của cô người tình cũng khá giống người bình thường khi bị mời đến thẩm vấn liên quan đến một vụ giết người. Cô ta lo lắng bởi vì cô biết mình bị tình nghi, cô ta né tránh việc đã gặp được nạn nhân bởi vì cô ta sợ rằng nếu nói ra sẽ càng bị nghi ngờ là kẻ giết người, đây cũng là một lẽ thường khi người ta muốn né tránh sự liên quan đến nạn nhân.

    Cuối cùng, dựa vào những phân tích trên, mình suy đoán tình tự hung thủ bẫy và giết người như sau:

    Hung thủ lên kế hoạch rất chặt chẽ, từ việc cô người tình hay người đối tác B có mặt tại công ty thời điểm đó và cả người nhân viên phòng marketing đi lên lấy tài liệu vừa đúng lúc phát hiện nạn nhân.
    Hung thủ sắp xếp cho nạn nhân gặp cô người tình ở phòng tiếp tân, trong khi trước đó đã đặt một cuộc hẹn với ông đối tác B để ông ta có mặt tại công ty.

    Thời điểm nạn nhân gặp cô người tình, hung thủ sắp xếp áo khoác và khẩu trang đặt sẵn ở nơi dễ lấy trên đường từ phòng tiếp tân đến phòng làm việc của nạn nhân, sau đó hung thủ gọi điện thông báo với nạn nhân rằng ông đối tác B đang có mặt ở công ty và hỏi xem ý nạn nhân thế nào. Bởi vì có xích mích với ông đối tác B nên nạn nhân sẽ có xu hướng né tránh, mà theo lẽ thường khách hàng thì sẽ đến phòng tiếp tân, vậy nên nạn nhân viện lý do rằng cô người tình hãy giúp nạn nhân tiếp khách đã để nạn nhân còn đi có việc gấp, sẽ nói chuyện sau. Điều này lý giải cho việc cô người tình tự mình pha cà phê (tác giả không nói rõ là 1 hay 2 cốc, nhưng biết là có cốc cà phê nóng, có thể cô ta pha không phải cho mình mà là cho người khác.). Sau đó nạn nhân rời khỏi phòng tiếp tân, dựa theo lời của hung thủ đến lấy áo và khẩu trang để né tránh không bị ông đối tác B nhận ra nếu vô tình gặp phải. Bởi vì đi một cách vội vã, nạn nhân không nhận ra mình đang hít phải một lượng thuốc mê được tẩm sẵn trong khẩu trang.

    Hung thủ tính toán lượng thuốc vừa đủ để nạn nhân gục trên đường đi, khi đó hung thủ chỉ cần chạy tới dùng dây siết cổ giết chết nạn nhân rồi nhanh chóng rời đi, thời gian vô cùng nhanh chóng. Hung thủ sẽ lột áo khoác của nạn nhân ra, lấy trong túi áo khoác chiếc khăn tẩm sẵn thuốc mê úp vào mặt nạn nhân (đã chết) rồi ném xuống đất tạo bằng chứng giả, cả dây cước vừa dùng cũng ném xuống, găng tay lấy trong túi áo đã chuẩn bị sẵn từ trước. Hung thủ chỉ thu hồi khẩu trang và găng tay của chính mình, sau đó phi tang ở nơi nào đó không khả nghi hoặc sẽ không bị để ý đến.

    Kết luận: Dựa trên những điều phân tích, hung thủ có thể sắp xếp những cuộc gặp và cả bằng chứng ngoại phạm của mình trong vỏn vẹn thời gian ngắn 10 – 15p chỉ có thể là cô thư kí. Cô ta sau khi gọi cho nạn nhân thông báo về sự có mặt của ông đối tác B thì chờ sẵn ở hành lang, vừa thấy nạn nhân loạng choạng chạy tới thì quay người đi về phía WC để tạo bằng chứng ngoại phạm, sau đó cô ta chỉ việc cầm dây cước và đeo găng tay, đi ra bằng cửa sau đến chỗ nạn nhân rồi thực hiện hành vi giết người, tạo bằng chứng giả, mọi thứ chỉ diễn ra nhiều lắm là 5 phút. Sau đó cô ta trở lại WC và thản nhiên ra bằng cửa trước sau khi phi tang khẩu trang và găng tay trong bồn cầu (cô ta rất có thể chuẩn bị sẵn kéo để cắt nhỏ hai thứ kia rồi giật nước bồn cầu để phi tang chứng cứ.). Vậy nên hung thủ là cô thư kí.
    Lần sửa cuối bởi Meocon93; 10-04-2016 lúc 03:57 PM


    Meocon93 Inventory


  10. Những người thích bài viết của Meocon93


  11. #19
    Tham gia ngày
    Jun 2014
    Bài gửi
    339
    $$$
    1.929
    Like
    0
    Được 29 Like trong 25 bài viết
    Quote Nguyên văn bởi Meocon93 Xem bài viết
    Xin chào! Mình là member mới, cũng muốn bon chen một chút suy luận cá nhân. Có gì sai sót mong mọi người góp ý để mình hoàn thiện hơn.

    Mình sẽ mở đầu bằng cách phân tích những dữ kiện từ nạn nhân mà nhân viên điều tra bước đầu đã đưa ra kết quả.

    Đầu tiên, về nguyên nhân chết: Do ngạt thở, bị siết cổ cho tới chết, không có dấu hiệu phản kháng nên có thể bị chụp thuốc mê, và bên khám nghiệm đã chứng thực rằng trong phổi nạn nhân tồn tại một lượng lớn thuốc gây mê.

    - Hiện trường là hành lang trước cửa phòng làm việc, nơi rất dễ bị nhìn thấy khi hung thủ đang gây án. Tuy nhiên theo lẽ thường, nơi gần khu vực làm việc của giám đốc sẽ rất ít người lui tới, trừ khi có việc cần đến chữ kí hay cần lấy tài liệu gì trước đó, nhưng phần lớn nhân viên sẽ không tự tiện lảng vảng ở nơi hành lang này, bởi thế có thể có hai phương án như sau:

    1. Hung thủ bộc phát mới ra tay giết nạn nhất.
    2. Hung thủ đã có sự sắp xếp từ trước.

    - Tại hiện trường phát hiện vật chứng: Một chiếc khăn tẩm thuốc mê, một đoạn dây cước nhỏ, một chiếc áo khoác dài, một đôi bao tay.
    Vật chứng gần như toàn bộ đều được để lại hiện trường, như thể ai đó cố tình để chúng tại đó. Như vậy có thể loại bỏ khả năng “hung thủ giết người do bộc phát”, bởi vì giết người do bộc phát sẽ không chuẩn bị nhiều thứ như vậy, mà dù có chuẩn bị đi chăng nữa cũng sẽ không giết người rồi ném mọi thứ ở lại mà sẽ theo bản năng bỏ chạy. Như vậy kết luận vụ án này là giết người có chủ ý.

    - Điều tra viên cho biết thời gian hung thủ có thể gây án là từ 9h đến 9h15’ sáng, đây là dựa theo thời gian tử vong của nạn nhân, cũng chưa hẳn đã đúng bởi hung thủ đã có kế hoạch từ trước nên cũng tính toán được khoảng thời gian tử vong để tạo chứng cớ ngoại phạm cho mình.

    Tiếp theo, chúng ta phân tích đến lời khai của ba người đang trong diện tình nghi là: Cô thư kí, ông đối tác B, cô người tình.

    Cả ba người đều có động cơ giết người nhưng cũng đều có chứng cớ ngoại phạm. Nhưng mỗi lời khai của họ lại để lộ ra những thông tin rất bất hợp lý, và những điều bất hợp lý đó lại chính là chứng cớ cho thấy hung thủ là ai.

    - Cô thư kí khai rằng cô ta đi WC trong thời gian ông giám đốc chết, và camera an ninh ở WC có thể chứng minh điều đó. Nhưng cửa sau của WC không có camera nên chứng cớ ngoại phạm này không chặt chẽ, khi bị nghi ngờ, cô ta đã tức giận hỏi văn lại bằng luận điệu “một cô gái như cô ta có thể làm được gì trong 10 đến 15p chứ?”

    Và khi ngài thanh tra J trầm mặc trong một lúc lâu mới cho cô ta rời đi, lúc đó cô ta không biểu hiện gì hay nói gì mà chỉ cầm túi rời đi.

    - Ông đối tác B là người có thể coi là người có khả năng giết nạn nhân cao nhất, bởi vì động cơ vô cùng rõ ràng và quyết liệt. Chính bởi thế nên ông ta đã rất kích động khi bị mời đến điều tra, vì ông ta sợ hãi bị nghi ngờ, nhưng cách ông ta trả lời ngài thanh tra J cho thấy ông ta cũng rất hả hê khi ông giám đốc kia chết.

    Chứng cớ ngoại phạm của ông B cũng khá chặt chẽ, bởi vì ông ta đang ở công ty không phải của mình, vậy nên ông ta có thể không biết có camera an ninh ở khu vực WC, bởi thế ông ta đã đưa ra chứng cớ rằng đứng ở trước cửa WC nói chuyện với đối tác khác. Giờ chỉ cần kiểm tra camera an ninh và chứng thực người đối tác kia thực sự nói chuyện với ông B trong thời gian hung thủ gây án.
    Thái độ khi thanh tra J nói về giả thiết vừa nói điện thoại vừa giết người thì ông B đã rất kích động biện luận rằng: “nếu ông ta giết người thì phải tạo ra tiếng động.” rồi “Hãy hỏi đối tác của ông ta xem có nghe thấy gì ngoài tiếng đóng mở cửa WC không.”, đây cũng là lời khai rất đúng theo tâm lý, bởi nếu ông B là thủ phạm thì ông ta sẽ né tránh nói những điều có liên quan đến vấn đề làm sao để giết người hay giết người sẽ phải có những cái gì.

    Sau khi được mời về, thái độ của ông B là tức giận hầm hầm rời đi.

    - Cô người tình khai rằng đến gặp nạn nhân để đòi tiền nhưng nạn nhân không chịu gặp, rồi lại nói rằng nạn nhân bố trí cô ta ở phòng tiếp tân nói rằng đợi nạn nhân vì nạn nhân còn có chút việc.
    Lời khai này có lỗ hổng bởi vì theo những gì cô ta nói thì cô ta đang cố tình né tránh việc cô ta đã gặp nạn nhân. Thực ra cô ta đã gặp mặt được nạn nhân nhưng chưa kịp nói gì đã bị nạn nhân đánh bài chuồn.

    Dựa theo bằng chứng ngoại phạm là cô ta đang tự mình pha cà phê uống cho thấy rằng cô ta từng làm việc này rất nhiều lần ở phòng tiếp tân này, và hành động này cũng chứng tỏ rằng cô ta biết chắc chắn rằng nạn nhân sẽ phải quay trở lại gặp cô ta.

    Khi thanh tra nói rằng cô ta có thể hẹn gặp để giết nạn nhân nhưng rồi cũng không kết luận gì cả, thái độ của cô người tình chỉ là nhăn mặt rồi đứng dậy rời đi.

    Thứ ba, ngài thanh tra J phát hiện điểm kì lạ trong thái độ và cách suy nghĩ của các nghi phạm, có một người có thái độ khác và cách suy nghĩ khác với hai người còn lại. Vậy nên giờ ta phân tích thái độ và cách suy nghĩ của cả ba nghi phạm.

    - Cô thư kí: Thái độ bình thản khi được mời đến, rất dễ dàng đưa ra lý do hợp lý cho việc cô ta không phải kẻ giết người, dễ dàng đưa ra bằng chứng ngoại phạm. Khi bằng chứng ngoại phạm bị nghi ngờ, cô ta nổi giận và đưa ra biện luận rất mơ hồ là “có thể làm được gì?” để vặn lại ngài thanh tra. Thái độ rời đi là im lặng xách túi ra thẳng cửa.

    Tư duy của cô thư kí rất kì lạ, như thể cô ta biết những điều mà nhân viên điều tra sẽ hỏi và chuẩn bị rất kĩ lưỡng, đến thái độ cũng đã được chuẩn bị kĩ lưỡng, nhưng có lẽ cô ta lại bị kích động bởi sự nghi ngờ. Cô ta cảm thấy lo lắng khi ra về vì sự trầm mặc của ngài thanh tra J.

    - Ông đối tác B: Thái độ vội vàng lo lắng khi được mời đến, hoảng hốt đưa ra bằng chứng ngoại phạm. Khi bằng chứng ngoại phạm bị nghi ngờ, ông ta kích động đưa ra hàng loạt những câu hỏi bằng các phương án phản đối cụ thể. Thái độ rời đi là tức giận lo lắng mà rời đi.

    Tư duy của ông B rất giống với người bình thường, khi bị mời lên thẩm vấn thường sẽ lo lắng bởi ông ta biết mình sẽ bị nghi ngờ là thủ phạm. Khi ông ta kích động, mọi điều ông ta nói sẽ không được sắp xếp chặt chẽ, vậy nên lời khai của ông ta rời rạc và hay lặp lại một vài điều, thường là sẽ bám rất sát bằng chứng ngoại phạm của mình.

    - Cô người tình: Thái độ bồn chồn, vội vàng đưa ra bằng chứng ngoại phạm. Khi bằng chứng ngoại phạm bị nghi ngờ thì không thấy cô ta phản ứng gì. Thái độ rời đi là nhăn mặt rồi đứng dậy đi mất.
    Tư duy của cô người tình cũng khá giống người bình thường khi bị mời đến thẩm vấn liên quan đến một vụ giết người. Cô ta lo lắng bởi vì cô biết mình bị tình nghi, cô ta né tránh việc đã gặp được nạn nhân bởi vì cô ta sợ rằng nếu nói ra sẽ càng bị nghi ngờ là kẻ giết người, đây cũng là một lẽ thường khi người ta muốn né tránh sự liên quan đến nạn nhân.

    Cuối cùng, dựa vào những phân tích trên, mình suy đoán tình tự hung thủ bẫy và giết người như sau:

    Hung thủ lên kế hoạch rất chặt chẽ, từ việc cô người tình hay người đối tác B có mặt tại công ty thời điểm đó và cả người nhân viên phòng marketing đi lên lấy tài liệu vừa đúng lúc phát hiện nạn nhân.
    Hung thủ sắp xếp cho nạn nhân gặp cô người tình ở phòng tiếp tân, trong khi trước đó đã đặt một cuộc hẹn với ông đối tác B để ông ta có mặt tại công ty.

    Thời điểm nạn nhân gặp cô người tình, hung thủ sắp xếp áo khoác và khẩu trang đặt sẵn ở nơi dễ lấy trên đường từ phòng tiếp tân đến phòng làm việc của nạn nhân, sau đó hung thủ gọi điện thông báo với nạn nhân rằng ông đối tác B đang có mặt ở công ty và hỏi xem ý nạn nhân thế nào. Bởi vì có xích mích với ông đối tác B nên nạn nhân sẽ có xu hướng né tránh, mà theo lẽ thường khách hàng thì sẽ đến phòng tiếp tân, vậy nên nạn nhân viện lý do rằng cô người tình hãy giúp nạn nhân tiếp khách đã để nạn nhân còn đi có việc gấp, sẽ nói chuyện sau. Điều này lý giải cho việc cô người tình tự mình pha cà phê (tác giả không nói rõ là 1 hay 2 cốc, nhưng biết là có cốc cà phê nóng, có thể cô ta pha không phải cho mình mà là cho người khác.). Sau đó nạn nhân rời khỏi phòng tiếp tân, dựa theo lời của hung thủ đến lấy áo và khẩu trang để né tránh không bị ông đối tác B nhận ra nếu vô tình gặp phải. Bởi vì đi một cách vội vã, nạn nhân không nhận ra mình đang hít phải một lượng thuốc mê được tẩm sẵn trong khẩu trang.

    Hung thủ tính toán lượng thuốc vừa đủ để nạn nhân gục trên đường đi, khi đó hung thủ chỉ cần chạy tới dùng dây siết cổ giết chết nạn nhân rồi nhanh chóng rời đi, thời gian vô cùng nhanh chóng. Hung thủ sẽ lột áo khoác của nạn nhân ra, lấy trong túi áo khoác chiếc khăn tẩm sẵn thuốc mê úp vào mặt nạn nhân (đã chết) rồi ném xuống đất tạo bằng chứng giả, cả dây cước vừa dùng cũng ném xuống, găng tay lấy trong túi áo đã chuẩn bị sẵn từ trước. Hung thủ chỉ thu hồi khẩu trang và găng tay của chính mình, sau đó phi tang ở nơi nào đó không khả nghi hoặc sẽ không bị để ý đến.

    Kết luận: Dựa trên những điều phân tích, hung thủ có thể sắp xếp những cuộc gặp và cả bằng chứng ngoại phạm của mình trong vỏn vẹn thời gian ngắn 10 – 15p chỉ có thể là cô thư kí. Cô ta sau khi gọi cho nạn nhân thông báo về sự có mặt của ông đối tác B thì chờ sẵn ở hành lang, vừa thấy nạn nhân loạng choạng chạy tới thì quay người đi về phía WC để tạo bằng chứng ngoại phạm, sau đó cô ta chỉ việc cầm dây cước và đeo găng tay, đi ra bằng cửa sau đến chỗ nạn nhân rồi thực hiện hành vi giết người, tạo bằng chứng giả, mọi thứ chỉ diễn ra nhiều lắm là 5 phút. Sau đó cô ta trở lại WC và thản nhiên ra bằng cửa trước sau khi phi tang khẩu trang và găng tay trong bồn cầu (cô ta rất có thể chuẩn bị sẵn kéo để cắt nhỏ hai thứ kia rồi giật nước bồn cầu để phi tang chứng cứ.). Vậy nên hung thủ là cô thư kí.
    1. "Cô người tình khai rằng đến gặp nạn nhân để đòi tiền nhưng nạn nhân không chịu gặp, rồi lại nói rằng nạn nhân bố trí cô ta ở phòng tiếp tân nói rằng đợi nạn nhân vì nạn nhân còn có chút việc.
    Lời khai này có lỗ hổng bởi vì theo những gì cô ta nói thì cô ta đang cố tình né tránh việc cô ta đã gặp nạn nhân. Thực ra cô ta đã gặp mặt được nạn nhân nhưng chưa kịp nói gì đã bị nạn nhân đánh bài chuồn"

    => Mình không nghĩ lời khai này có lỗ hỏng. Cô ta là bồ cũ của nạn nhân, nên việc cô ta lúc đến công ty đã từng "chạm mặt" nạn nhân chưa thì các nhân viên khác đều nhìn thấy, nên không có lý do gì mà cô ta che giấu điều này cả. Câu "không chịu gặp" bao gồm hai ý nghĩa, một là nạn nhân biết cô ta đến công ty nhưng vì đang bận nên tạm thời bảo nhân viên để cô ta đợi ở phòng tiếp tân, hai là nạn nhân trực tiếp đưa cô ta vào phòng tiếp tân nhưng vì bận việc nên nạn nhân phải lấy lý do rời khỏi căn phòng một ít phút. Lúc này, dù ở trường hợp nào đi nữa thì trong suy nghĩ của cô bồ cũ đều nảy sinh một sự nghi ngờ, cô ta đã nghĩ rằng nạn nhân đang cố tình tránh mặt mình (vì mục đích của cô ta đến là để đòi tiền), do đó cô ta mới khai với cảnh sát "nạn nhân không chịu gặp mặt". Mình nghĩ đây mới chính là cách lý giải đúng cho câu nói của cô bồ cũ, chứ không phải vì cô ta muốn che giấu một điều gì đó mà khai như vậy.

    2. "Ông đối tác B: Thái độ vội vàng lo lắng khi được mời đến, hoảng hốt đưa ra bằng chứng ngoại phạm. Khi bằng chứng ngoại phạm bị nghi ngờ, ông ta kích động đưa ra hàng loạt những câu hỏi bằng các phương án phản đối cụ thể. Thái độ rời đi là tức giận lo lắng mà rời đi.

    Tư duy của ông B rất giống với người bình thường, khi bị mời lên thẩm vấn thường sẽ lo lắng bởi ông ta biết mình sẽ bị nghi ngờ là thủ phạm. Khi ông ta kích động, mọi điều ông ta nói sẽ không được sắp xếp chặt chẽ, vậy nên lời khai của ông ta rời rạc và hay lặp lại một vài điều, thường là sẽ bám rất sát bằng chứng ngoại phạm của mình."

    => Mình thì lý giải về sự tức giận của ông đối tác theo một hướng khác. Nạn nhân là người đã gây ra thiệt hại cho ông ta, nên sự có mặt của ông ta trong ngày hôm nay có lẽ là vì mục đích thương lượng, bàn bạc, yêu cầu nạn nhân đền bù thiệt hại, hay cũng như chịu một phần trách nhiệm trong chuyện này (vì dù gì ông ta cũng là đối tác của công ty nạn nhân, chứ không phải là đối thủ của nhau). Hơn nữa, hành động ông ta gọi điện thoại nói chuyện với khách hàng của mình, cho thấy tâm lý lúc ấy khá gấp gáp, nôn nóng, như muốn nhanh chóng giải quyết mọi chuyện với nạn nhân. Nhưng kết quả của cuộc "thương lượng" lúc đó là chưa gặp được thì nạn nhân đã chết. Vì vậy, ông ta mới càng thêm nóng nảy, và muốn bỏ về thật nhanh. Tâm lý của ông ta lúc đó có lẽ là "đến gặp nạn nhân chỉ với mục đích giải quyết công việc", nhưng giờ người đã chết mà công việc thì lại không xong, do đó không có lý do gì để ông ta tốn thêm thời gian ở lại công ty này.

    3. "Cô người tình: Thái độ bồn chồn, vội vàng đưa ra bằng chứng ngoại phạm. Khi bằng chứng ngoại phạm bị nghi ngờ thì không thấy cô ta phản ứng gì. Thái độ rời đi là nhăn mặt rồi đứng dậy đi mất.
    Tư duy của cô người tình cũng khá giống người bình thường khi bị mời đến thẩm vấn liên quan đến một vụ giết người. Cô ta lo lắng bởi vì cô biết mình bị tình nghi, cô ta né tránh việc đã gặp được nạn nhân bởi vì cô ta sợ rằng nếu nói ra sẽ càng bị nghi ngờ là kẻ giết người, đây cũng là một lẽ thường khi người ta muốn né tránh sự liên quan đến nạn nhân".

    => Mình lại tiếp tục nghĩ khác bạn. Mục đích của cô bồ cũ đến gặp nạn nhân là để "đòi tiền", nên khi nạn nhân chết đi, cô ta sẽ không có cơ hội đòi được "số tiền" mà mình mong muốn. Do đó, mới dẫn đến việc cô ta tỏ vẻ khó chịu trên gương mặt. Mình không cho rằng cô ta đang lo lắng hay sợ hãi gì khi bị tình nghi là kẻ giết người, điều này được thể hiện rõ qua lời khai của cô ta. Việc đến gặp nạn nhân để đòi tiền là chuyện riêng tư giữa cô ta với nạn nhân, cảnh sát cũng không thể nào biết được mục đích của cô ta đến công ty ngày hôm nay là gì. Do đó, nếu như cô bồ cũ thật sự lo sợ về việc bản thân bị tình nghi, thì ngay từ đầu cô ta đã không khai rằng mình đến đây là để "đòi tiền", điều này chẳng khác gì chứng minh cho cảnh sát thấy "tôi có động cơ" để giết người.

    4. "Thời điểm nạn nhân gặp cô người tình, hung thủ sắp xếp áo khoác và khẩu trang đặt sẵn ở nơi dễ lấy trên đường từ phòng tiếp tân đến phòng làm việc của nạn nhân, sau đó hung thủ gọi điện thông báo với nạn nhân rằng ông đối tác B đang có mặt ở công ty và hỏi xem ý nạn nhân thế nào. Bởi vì có xích mích với ông đối tác B nên nạn nhân sẽ có xu hướng né tránh, mà theo lẽ thường khách hàng thì sẽ đến phòng tiếp tân, vậy nên nạn nhân viện lý do rằng cô người tình hãy giúp nạn nhân tiếp khách đã để nạn nhân còn đi có việc gấp, sẽ nói chuyện sau. Điều này lý giải cho việc cô người tình tự mình pha cà phê (tác giả không nói rõ là 1 hay 2 cốc, nhưng biết là có cốc cà phê nóng, có thể cô ta pha không phải cho mình mà là cho người khác.). Sau đó nạn nhân rời khỏi phòng tiếp tân, dựa theo lời của hung thủ đến lấy áo và khẩu trang để né tránh không bị ông đối tác B nhận ra nếu vô tình gặp phải. Bởi vì đi một cách vội vã, nạn nhân không ra mình đang hít phải một lượng thuốc mê được tẩm sẵn trong khẩu trang.

    Hung thủ tính toán lượng thuốc vừa đủ để nạn nhân gục trên đường đi, khi đó hung thủ chỉ cần chạy tới dùng dây siết cổ giết chết nạn nhân rồi nhanh chóng rời đi, thời gian vô cùng nhanh chóng. Hung thủ sẽ lột áo khoác của nạn nhân ra, lấy trong túi áo khoác chiếc khăn tẩm sẵn thuốc mê úp vào mặt nạn nhân (đã chết) rồi ném xuống đất tạo bằng chứng giả, cả dây cước vừa dùng cũng ném xuống, găng tay lấy trong túi áo đã chuẩn bị sẵn từ trước. Hung thủ chỉ thu hồi khẩu trang và găng tay của chính mình, sau đó phi tang ở nơi nào đó không khả nghi hoặc sẽ không bị để ý đến".

    => Mình nghĩ hướng suy luận này có lỗ hỏng. Một giám đốc của công ty không thể nào "hạ mình" đến như vậy. Nếu thật sự nạn nhân muốn né tránh, thì ông ta đã không có một cuộc hẹn với ông đối tác. Dù cho sự xuất hiện của ông đối tác trong ngày hôm nay là đường đột, thì nạn nhân hoàn toàn có thể nói thư ký chuyển lời báo bận đến người này, chứ không thể nào mời ông đối tác vào phòng chờ, rồi sau đó lại "hóa trang" để tránh mặt ông ta. Có thể thấy được mâu thuẩn khá rõ ràng ở đây.

    Việc hung thủ tính toán lượng thuốc mê trên chiếc khẩu trang cũng không hợp lý cho lắm. Vì hành động đi lại của nạn nhân lúc này đều do nạn nhân làm chủ. Mình có thể ví dụ như sau: Đặt phòng tiếp tân là A, các phòng khác là B, C, D. Dù cho hung thủ có tính toán chuẩn xác khoảng time giữa cách phòng đi chăng nữa, thì hung thủ cũng không thể nào biết được việc đi lại của nạn nhân. Nếu hung thủ tính toán từ phòng A đi đến phòng D nạn nhân sẽ gục ngã, nhưng bỗng nhiên nạn nhân có việc đứng lại ở phòng B hoặc C, thì lúc này mọi tính toán của hung thủ sẽ đều thành công cốc (cá nhân mình cho rằng hướng này không thỏa đáng).

    Hơn nữa, suy luận của bạn có một mâu thuẩn như sau. Bạn nói rằng sau khi nạn nhân rời khỏi phòng tiếp tân, thì theo lời hung thủ đến lấy áo và khẩu trang để tránh mặt ông đối tác. Nhưng mà thi thể nạn nhân lại được phát hiện ở hành lang ngay cạnh cửa phòng làm việc => vậy nạn nhân "hóa trang" rồi sau đó đi về lại phòng mình để làm gì (?). Việc nạn nhân nhờ cô bồ cũ ở lại tiếp ông đối tác cũng không được logic. Mục đích ông đối tác đến gặp nạn nhân để hỏi về chuyện làm ăn thua lỗ. Còn mục đích của cô bồ cũ thì đến để đòi tiền bồi thường. Cả hai người ai cũng đều có mục đích cá nhân riêng, nên cô bồ cũ sẽ không thể nào nhận lời ngồi lại tiếp chuyện với ông đối tác như trong suy luận của bạn.


    Akiyama M Inventory


  12. #20
    Tham gia ngày
    Mar 2014
    Bài gửi
    898
    $$$
    8.973
    Like
    28
    Được 59 Like trong 34 bài viết
    suy luận của bạn Meocon dựa vào tâm lí tội phạm nhiều nên dễ sa đà và tự đặt giả thiết sai, nhưng những phân tích của bạn cũng có nhiều ý đúng. Tuy nhiên mới chỉ dừng ở mức dựng lại tính huống chứ chưa khai thác được nhiều, lại tự suy diễn nên thành ra sai hướng. Giả thiết về khẩu trang khá mới mẻ nhưng rõ ràng không khả thi trong vụ này.
    Không còn gì bất hạnh hơn khi đã biết một nửa sự thật mà không khám phá nốt nửa còn lại


    Hannibal Inventory
    03. Huy hiệu Công Lý


Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •